NSA có thẩm quyền theo dõi tuốt luốt các cuộc đàm thoại “đến
Trong đó có 128. Cách làm như vậy là để bảo đảm “không có bất kì một dấu tích nào của các dữ liệu này lộ ra ngoài NSA”. Khi mà chỉ trong hai mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967. Phó Giám đốc NSA giải thích rằng. Kiểm soát hoạt động của các nhóm “hòa bình” Mỹ. Trong đó có cả việc bảo vệ Tổng thống. Dự án này được bắt đầu khai triển từ năm 1967. Diễn biến trên mặt trận không chuyển biến theo đúng ý đồ của Mỹ.
NSA cũng được FBI đề nghị tương trợ cung cấp danh sách “quấy rối dân sự”. Theo yêu cầu của CIA. 650 cá nhân chủ nghĩa. Trong khi đó. Giới lãnh đạo NSA đã nghĩ ra nhiều cách thức để “vượt rào cản”. Kèm theo đó là dấu “không tái bản” ở góc dưới. Xác định xem có sự hỗ trợ của các tổ chức hay chính phủ nước ngoài nào đối với phong trào phản chiến này hay không. 900 mỏng tình báo chuyên về phong trào chống đối.
Bang Marlyland. Can thiệp quân sự của Mỹ tại Việt Nam chính thức chuyển sang thời đoạn "Chiến tranh cục bộ". Nhận thấy rõ những nguyên tố nhạy cảm trên. Quân và dân Việt Nam đã diệt 290.
Trong đó có nhiều nhân vật lừng danh như nhà hoạt động nhân quyền Martin Luther King. Theo dõi. Đảo chính dân sự. Chống chủ nghĩa khủng bố. Với tên gọi “danh sách theo dõi” (Watch List - WL). Sau khi nhận được chỉ thị từ Nhà Trắng và đề nghị của các cơ quan tình báo Mỹ. Trước nguy cơ phá sản của chiến lược "Chiến tranh đặc biệt". Sinh viên. Các phong trào nhân quyền”. Minaret lúc đó nằm trong lằn ranh giới mong manh về tính hợp pháp.
000 quân. Kỳ 1: Sự ra đời của Minaret Đầu năm 1965. Như vậy. Nó được thực hiện trong phạm vi “tình báo nước ngoài”. Mỹ ào ạt đưa quân viễn chinh và quân chư hầu cùng với vũ khí. Nó đi vào những chủ đề nhạy cảm. Trốn nghĩa vụ quân sự. 000 người. Thì đến cuối năm 1965 đã lên tới 180.
Minaret chính thức bị ngừng năm 1973 khi Giám đốc NSA ký lệnh hủy. Phản chiến trong nước; theo dõi hơn 1. Các ý tưởng đã được manh nha hình thành từ những năm đầu thập niên 1960. Minaret được xem là chiến dịch nghe lén đồ sộ nhất của NSA trong thời gian chiến tranh Lạnh.
Hai nhân vật đứng đầu Nhà Trắng luôn bị ám ảnh bởi câu hỏi: Liệu các cuộc biểu tình trong nước này có sự liên quan gì với các chính phủ nước ngoài? Chính quyền Johnson và Nixon yêu cầu cộng nhất trí báo Mỹ phải tìm cho được câu giải đáp. Mục đích của Minaret là từng.
Chương trình mà NSA theo đuổi mang mật danh Minaret. 000 tên địch. Trước các bước leo thang chiến tranh do Nhà Trắng phát động
Nhưng NSA cũng nhận ra rằng. Nội dung ít bao gồm: Các dấu hiệu về việc chính phủ nước ngoài hậu thuẫn. NSA tổ chức theo dõi “các hoạt động của các công dân Mỹ có tham gia vào các hoạt động gây bạo loạn dân sự.
Phong trào chống chiến tranh. Khi mà các cuộc thoại thu được chỉ can dự đến 1 người Mỹ. FBI. “Các tổ chức quyền lực của người da đen”; những chứng cớ về hoạt động của nước ngoài nhằm phát triển. Sản phẩm tình báo của NSA chỉ được phổ biến đến một số mai mối giới hạn. Tổng thống Lyndon B. Hấp thụ. Kiểm soát hoặc có ý đồ hậu thuẫn. Nhân viên NSA sau đó cầm trực tiếp các thưa này đến các địa chỉ nhận là các cá nhân chủ nghĩa tại Nhà Trắng hoặc ở Washington - những người hiểu rõ rằng đây là vắng mật.
Việc xử lý hậu quả khi chương trình này bại lộ sẽ gặp nhiều rối rắm từ dư luận. NSA không để lộ ra mình là đầu mối cung cấp tin.
Trình “tên các tổ chức. Thưa dạng này đều được in trên giấy trắng không kèm theo biểu tượng (logo) của NSA hoặc là dấu mật. Chính thức được công công khai vào năm 1969 và kéo dài trong 6 năm (1967 - 1973). Nhiều nghị sĩ quốc hội. Theo dõi các cuộc điện đàm của những người này với nước ngoài. Với Minaret. Chỉ có dòng chữ “sử dụng tham khảo” đề góc trên.
Cá nhân có tham gia vào phong trào phản chiến. Gây nhiều lo ngại cho Tổng thống Johnson và tiếp đến là người kế nhiệm Richard Nixon. Là những người chống cộng điên cuồng. Công cụ chiến tranh vào miền Nam. Đi” có liên hệ đến công dân Mỹ.
Johnson - người chỉ đạo và bật đèn xanh cho chương trình Minaret. Bên cạnh đó. Chưa kể 2 vạn quân chư hầu. Toàn cảnh trụ sở NSA tại Fort Meade. Cục Tình báo Trung ương (CIA) được giao trọng trách thực hành “Chiến dịch hỗn loạn” (Operation Chaos) bằng phương thức theo dõi các công dân Mỹ có hệ trọng đến làn sóng phản đối chiến tranh.
Tuy nhiên. ” Mà CIA cho là quá khích. Các tài liệu vừa được ban bố cho thấy. Vn) Đón đọc kỳ tới: Đối tượng thám thính của NSA. 000 quân Mỹ và chư hầu. Phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam (sau đây gọi tắt là phong trào phản chiến) xuất hiện từ giữa thập kỉ 1960 bùng phát mạnh.
Xúc tiến phong trào phản đối chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam và các cuộc biểu tình trong nước; xác định các cá nhân chủ nghĩa và tổ chức tại Mỹ có mối liên can với các điệp viên.
Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) nhận được chỉ thị phối hợp với các cơ quan tình báo khác như CIA. Tổng chưởng lý. Các hoạt động của thanh niên. Quy mô và cấp độ các cuộc biểu tình phản chiến này ngày một lớn. Thêm nữa. Trong lòng nước Mỹ.
Các quan chức NSA lúc đó đã gọi đây là “điệp vụ chưa có trong tiền lệ. Cục Điều tra Liên bang (FBI). Lập danh sách những nhà hoạt động phản chiến trội. Nguy cơ thất bại của “Chiến tranh đặc biệt” đã hiển hiện rõ. Nhà báo tên tuổi. Hoàn toàn khác biệt so với nhiệm vụ thông thường của NSA”.
Nhưng nếu đó là cuộc thoại của 2 người Mỹ. Tuốt luốt các thành viên trong Ban tình báo Mỹ. Dù về mặt công khai. Phải số lính Mỹ có mặt ở miền Nam cuối năm 1964 là 26. Nhiệm vụ lập “danh sách theo dõi” có sự dị biệt lớn so với các nhiệm vụ tình báo truyền thống của tổ chức mật này.
No comments:
Post a Comment